Thế nào là trộm cắp tài sản?

Trong nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Căn cứ vào hành vi và mức độ thiệt hại pháp luật quy định phân loại các tội như sau: Trộm cắp tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản,cướp tài sản, cướp giật tài sản,làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Hôm nay chúng tôi sẽ chia sẻ tới bạn đọc về tội ” Trộm cắp tài sản” vậy trộm cắp tài sản là gì ? nó khác gì với các tội khác.

Trộm cắp tài sản là gì?

toi trom cap tai san - Thế nào là trộm cắp tài sản?
Trộm cắp tài sản

Thế nào là trộm cắp tài sản (quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015) là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.

Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản
Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi. Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Trên thực tế, hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tài sản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này lại thuộc về người phạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một cách trái pháp luật.

Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí mật. Việc lén lút, bí mật là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó.

Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với các tội có tính chiếm đoạt khác (như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản…)

Việc che giấu hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng những hình thức khác nhau, cụ thể là:

Che giấu toàn bộ hành vi: Trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết được bất cứ thông tin nào về người phạm tội cũng như hành vi phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đêm tối, lẻn vào nhà người khác lấy trộm tài sản).

Che giấu một phần hành vi: Tức chỉ che giấu riêng hành vi phạm tội (ví dụ: Kẻ phạm tội giả vờ vào hỏi chủ nhà xin nước uống, giả vờ hỏi thăm đường đi… và nhanh tay trộm tài sản giấu vào người). Trong trường hợp này chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản biết rõ người phạm tội nhưng không biết hành vi phạm tội.

Che giấu tính chất của hành vi phạm tội: Được hiểu là hành vi phạm tội được diễn ra công khai nhưng không ai biết việc phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đám cưới đông người, người giữ xe tưởng là bạn bè của cô dâu, chú rể nên để cho kẻ phạm tội tự do dắt xe khỏi nơi giữ do mình quản lý).

Dấu hiệu định tội

Giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì phải thuộc một trong các trường hợp:

Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

Đã bị kết án về tội này hoặc một trong số các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175, 290 nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì ngưòi thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội

Tài sản là phương tiện kiếm của chính của người bị hại và gia đình họ (Ví dụ: Gia đình chỉ có một chiếc xe gắn máy duy nhất dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho cả gia đình).

Tài sản là di vật, cổ vật.

Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đến tài sản của người  khác: Tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác, hoặc tài sản do người khác đang quản lý, chiếm hữu sử dụng hợp pháp.

Chủ thể

Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 16 tuổi trở lên

Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Hình phạt chính đối với tội trộm cắp tài sản

Mức hình phạt của tội trộm cắp tài sản được chia thành bốn khung, cụ thể như sau:

Khung một (khoản 1).

Có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan.

Khung hai (khoản 2).

Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Được áp dụng đối vối một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Có tổ chức (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Có tính chất chuyên nghiệp (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm. Được hiểu là các thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện (như bố trí trộm cắp xe gắn máy tại bãi giữ xe) và các thủ đoạn mang tính nguy hiểm gây thiệt hại thêm cho chủ sở hữu (như dỡ mái nhà để trèo vào trộm cắp…)

Hành hung để tẩu thoát (xem giải thích tương tự ở tội cướp giật tài sản).

Tài sản là bảo vật quốc gia;

Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).

Khung ba (khoản 3).

Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Được áp dụng đối vói một trong các trường hợp phạm tội sau đây:

Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

 Khung bốn (khoản 4).

Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:

Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Hình phạt bổ sung đối với tội trộm cắp tài sản

Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội trộm cắp tài sản còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

* Một số vấn đề cần chú ý:

Phân biệt dấu hiệu đặc trưng của tội trộm cắp tài sản với một số tội có dấu hiệu gần tương đồng.

Thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi có điều kiện mới lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại thì đó là dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản chứ không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Thủ đoạn đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là không cần che giấu hành vi và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt. Nhiều người nhìn thấy và không nghi ngờ gì về hành vi chiếm đoạt tài sản. Trường hợp người phạm tội lợi dụng không có ai trực tiếp quản lý tài sản, giả làm ngưòi có trách nhiệm đến và chiếm đoạt tài sản đó. Trường hợp này người phạm tội đã thực hiện hành vi lén lút ở việc che giấu thân phận thật của mình (giả làm người có trách nhiệm) để lén lút với mọi người xung quanh và người quản lý tài sản, tiếp cận và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Do vậy, họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản chứ không phải tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

 

Thủ đoạn đặc trưng của tội cướp giật tài sản là hành vi công khai và nhanh chóng giằng lấy, giật lấy tài sản thường là gọn nhẹ của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Trường hợp người phạm tội lợi dụng chỗ đông người lén giật tài sản của người khác để không bị phát hiện rồi sau đó chiếm đoạt tài sản ấy. Trường hợp này thực chất người phạm tội đã lén lút (không có ý thức công khai) chiếm đoạt tài sản bằng cách giật lấy tài sản thật nhanh chóng để không ai thấy. Người phạm tội đã lén lút cả đối với người bị hại và đối với người xung quanh. Do vậy, trường hợp này là tội trộm cắp tài sản chứ không phải là tội cướp giật tài sản.

Công ty Luật ViLakey – Chi nhánh Luật sư Đồng Nai, với đội ngũ Luật sư giỏi sẽ hỗ trợ bạn thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật .

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Hotline: 0916 39 79 19 – 0918 22 99 88

Chuyên Mục: Dịch Vụ Luật Sư,Tư Vấn Pháp Luật

Chủ Đề: ,,,

HÃY ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Để được tư vấn ngay vui lòng gọi cho Luật sư của chúng tôi theo số: 0916 39 79 19