05 trường hợp mà NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ

05 trường hợp mà NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ theo Bộ luật Lao động 2019

Người lao động (NLĐ) thực hiện các hành vi sau đây có trách nhiệm bồi thường cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) theo Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.

Công ty Luật Vilakey chi nhánh Luật sư Đồng Nai với đội ngũ Luật sư giỏi cung cấp dịch vụ tư vấn nhanh – chính xác – hiệu quả về vấn đề này. Mọi chi tiết vui lòng liên hệ Hotline

Boi thuong lao dong - 05 trường hợp mà NLĐ phải bồi thường cho NSDLĐ
bồi thường lao động

Theo đó, Bộ luật Lao động 2019 có quy định như sau:

(1) Khi NLĐ và NSDLĐ đã có thỏa thuận bằng văn bản về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm mà NLĐ có hành vi vi phạm các quy định này thì có trách nhiệm bồi thường cho NSDLĐ.

(Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động 2019).

(2) Khi NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì NLĐ có trách nhiệm bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

(Khoản 2 Điều 40 Bộ luật Lao động 2019).

(3) Khi NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của NSDLĐ (hiện hành chỉ quy định bồi thường theo quy định của pháp luật).

Trường hợp NLĐ gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi NLĐ làm việc thì NLĐ phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật Lao động 2019.

(Khoản 1 Điều 129 Bộ luật Lao động 2019).

(4) Khi NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động (Hiện hành chỉ quy định bồi thường theo thời giá thị trường).

Trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.

Trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

(Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Lao động 2019).

(5) Bồi thường chi phí đào tạo khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động

Điều 62. Bộ luật Lao động 2019

Khi người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động. có thỏa thuận về cam kết làm việc. Mà người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Chuyên Mục: Tư Vấn Pháp Luật

HÃY ĐẶT CÂU HỎI CỦA BẠN

Để được tư vấn ngay vui lòng gọi cho Luật sư của chúng tôi theo số: 0916 39 79 19